Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Bài tập giữa kỳ môn Bảo hộ lao động

Câu 1: Tại sao nói thực hiện tốt công tác Bảo hộ lao động là góp phần xây dựng một xã hội văn minh và lành mạnh

Câu 2: Tổ chức bộ máy làm công tác BHLĐ/ AT-VSLĐ tại các cơ sở lao động được quy định trong văn bản mới nhất như thế nào.

Bài làm

Câu 1:

Lao động sản xuất ngày càng phát triển thì đồng nghĩa với nó những nguy cơ tai nạn, bệnh tật ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động cũng ngày càng cao. Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, bên cạnh những chính sách đầu tư khác cho con người- nguồn lực vô cùng quan trong đối với các doanh nghiệp- doanh nghiệp cần phải đầu tư thích đáng cho công tác Bảo hộ lao động. Một công tác có ý nghĩa vô cùng lớn đối với cả doanh nghiệp, người lao động và xã hội.

Trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là Bảo hộ lao động? Bảo hộ lao động( hay AT-VSLAĐ) là hệ thống các vấn đề về luật pháp, khoa học công nghệ, kinh tế xã hội, tổ chức hành chính nhằm cải thiện điều kiện lao động, tiện nghi lao động góp phần hạn chế tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động đảm bảo cho họ làm việc lâu dài.

Bảo hộ lao động là một tất yếu khách quan trong sự phát triển của con người, là điều kiện tiên quyết bảo đảm sức khỏe, mang lại hạnh phúc cho người lao động nên nó mang ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội và nhân văn sâu sắc. Cũng có thể khẳng định thực hiện tốt công tác Bảo hộ lao động là góp phần xây dựng một xã hội văn minh và lành mạnh.

Xã hội văn minh, lành mạnh là xã hội con người được phát triển một cách toàn diện, được sống hạnh phúc, được đảm bảo về quyền lợi các giá trị đạo đức, nhân văn được giữ gìn và phát triển, không có các tệ nạn xã hội. Một xã hội muốn phát triển bền vũng phải có nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc. Với những ý nghĩa về kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn, công tác bảo hộ lao động đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng một xã hội văn minh lành mạnh


* Công tác bảo hộ lao động với ỹ nghĩa về chính trị: 

Bảo hộ lao động thể hiện quan điểm coi con người là vốn quý nhất, là mục tiêu là động lực của sự phát triển của Đảng và Chính phủ. Công tác bảo hộ lao động được làm tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe, tính mạng và đời sống cho con người. Người lao động được làm việc trong điều kiện tốt, an toàn, đảm bảo sức khỏe, thu nhập sẽ tin tưởng vào chế độ hơn, làm việc, cống hiến hết mình để phát triển chế độ.

Mặt khác bảo hộ lao động cũng thể hiện sự quan tâm của chính phủ đối với người lao động. Người lao động trong quan hệ lao động luôn yếu thế do không có tư liệu sản xuất, bị động trong nhiều vấn đề. Quy định chặt chẽ về công tác bảo hộ lao động đã bảo vệ người lao động trong và sau quá trình lao động. Thể hiện tính ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa.

Ngoài việc bảo vệ người lao động công tác bảo hộ còn góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát huy hết khả năng tiềm tàng của người lao động để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.

Nếu để tai nạn lao động xảy ra thì chế độ và doanh nghiệp đều mất uy tín và thiệt hại. Chính trị ổn định, xã hội sẽ ổn định và có điều kiện để phát triển văn minh hơn, lành mạnh hơn.

* Ý nghĩa về kinh tế của công tác bảo hộ lao động

Bảo hộ lao động có ý ngĩa kinh tế vô cùng to lớn đối với cả người lao động, người sử dụng lao động và quốc gia

- Đối với người lao động: khi bảo hộ lao động được làm tốt, sức khỏe của họ được đảm bảo, họ làm việc tốt, không ngừng sáng tạo, năng suất lao động tăng, thu nhập đảm bảo và ngày càng được nâng cao, cuộc sống gia đình ổn định. Có phần tích lũy, đầu tư để đảm bảo cuộc sống sau này.

Ngược lại nếu bảo hộ lao động không tốt, sức khỏe họ không được đảm bảo, nguy cơ rủi ro cao, mất việc làm, ảnh hưởng đến thu nhập, chi phí khám chữa bệnh và các chính sách xã hội khác.

- Đối với người sử dụng lao động: làm tốt công tác bảo hộ mang lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp cả về mặt kinh tế và uy tín. Khi người lao động được bảo vệ sưc khỏe, họ yên tâm sản xuất, không ngừng sáng tạo nâng cao năng suất, cải tiến kĩ thuật, chi phí đầu vào giảm, hiệu quả kinh tế cao, lợi nhuận doanh nghiệp đạt được sẽ lớn hơn; bên cạnh đó nếu không xảy ra tai nạn sản xuất sẽ diễn ra liên tục, không bị gián đoạn, doanh nghiệp cũng không bị thiệt hại, không mất chi phí để sửa chữa máy móc nhà xưởng, chi phí đền bù thiệt hại cho người lao động; uy tín của doanh nghiệp được nâng cao.

Nếu để tai nạn xảy ra, doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại về tài sản, các loại chi phí về đền bù, sửa chữa, chịu trách nhiệm trước pháp luật và bị mất uy tín.

- Đối với quốc gia: khi không có các vấn đề về tai nạn lao động, không có thiệt hại về người và của, thu nhập quốc dân tăng cao, vốn đầu tư lớn. Xã hội không phải lo việc chăm sóc chữa trị và các chính sách khác cho những người bị tai nạn mà lẽ ra điều đó là không đáng xảy ra nếu làm tốt công tác bảo hộ. Phần tiền đó có thể tiết kiệm hoặc dành cho những đối tượng khác

Làm tốt công tác bảo hộ cũng là một trong những tiêu chí để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để xã hội phát triển bền vững hơn.

* Ý nghĩa xã- hội nhân văn của công tác bảo hộ lao động

Với xã hội, công tác bảo hộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần trực tiếp và xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh. Nó được thể hiện trên các mặt sau:

- Công tác bảo hộ góp phần bảo đảm hạnh phúc gia đình cho người lao động.

Gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình hạnh phúc, tốt đẹp sẽ góp phần làm xã hội đó hạnh phúc và tốt đẹp hơn. Các yếu tố cơ bản để xây dựng một gia đình hạnh phúc không thể thiếu sức khỏe và điều kiện về kinh tế. Người lao động khi làm việc mục đích hướng tới của họ đa phần là mục đích về kinh tế, để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình.

Khi công tác bảo hộ lao động được thực hiện tốt, người lao động được làm việc trong môi trường an toàn, họ an tâm hơn, sức khỏe được đảm bảo, duy trì và nâng cao. Năng suất lao động cao, người lao động không ngừng tự hoàn thiện mình, ngày công của họ cao hơn, thu nhập cao, đảm bảo điều kiện cho cuộc sống đầy đủ, thoái mái, hạnh phúc gia đình từ đó được duy trì

Mặt khác được làm việc trong môi trường an toàn, những căng thẳng về tâm lí của họ về công việc phần nào sẽ được khắc phục, tâm trạng họ thoải mái hơn. Khi trở về nhà sau ngày làm việc, họ không thấy mệt mỏi, khó chịu, có nhiều thời gian cho gia đình, để mọi người hiểu nhau, cùng nuôi dạy con cái. Xã hội phát triển vững mạnh, phồn vinh.

Nếu công tác bảo hộ không được thực hiện, hoặc thực hiện không tốt, tai nạn xảy ra, người lao động sẽ bị ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng. Họ không thể làm việc, thu nhập giảm, nếu là trụ cột trong gia đình sẽ ảnh hưởng lớn tới cuộc sống gia đình vì nỗi lo cơm áo gạo tiền, dẫn đến những xích mích, thậm trí họ có thể trở thành gánh nặng cho gia đình, cho con cái. Hạnh phúc sẽ bị ảnh hưởng. Gia đình tan vỡ, con cái không được nuôi dạy đầy đủ. Thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, xã hội không ổn định, các giá trị đạo đức bị phá vỡ.

- Góp phần đảm bảo và bảo toàn quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ bảo hiểm xã hội được xây dựng trên sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước dùng để chi trả cho các tai nạn lao động, rủi ro nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản

Khi công tác bảo hộ lao động được làm tốt, không có tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sức khỏe người lao động được đảm bảo, họ làm việc không ngừng, một phần thu nhập của họ sẽ được đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm không ngừng tăng.

Mặt khác, khi không có tai nạn lao động, bệnh nghề ngiệp, sức khỏe người lao động ổn định, quỹ bảo hiểm xã hội không phải chi trả cho các rủi ro trên. Quỹ bảo hiểm được bảo toàn, nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được đầu tư có hiệu quả để tăng thêm quỹ.

Bảo hiểm xã hội là sự quan tâm của nhà nước của xã hội đối với người lao động trong và sau quá trình cống hiến của họ với xã hội. Xã hội ngày càng văn minh thì sự đãi ngộ người lao động nhận được ngày càng nhiều, bảo hiểm xã hội cũng ngày càng tăng. Bảo hộ lao động là một trong các yếu tố góp phần vào mục tiêu đó.

- Bảo hộ lao động góp phần bảo vệ môi trường

Công tác bảo hộ lao động bao gồm các biện pháp về tổ chức, kĩ thuật, nhằm cải thiện điều kiện lao động, làm môi trường luôn trong sạch, đảm bảo các tiêu chuẩn của pháp luật. Để làm được điều đó, ngoài việc tạo ra môi trường làm việc sạch sẽ, thoáng mát, tổ chức lao động, nơi làm việc tốt, các doanh nghiệp còn phải xử lí rác thải trước khi thải ra môi trường, góp phần bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, qua việc thực hiện bảo hộ lao động, ý thức về bảo vệ môi trường của người lao động được rèn luyện cả trong công việc và cuộc sống bên ngoài. Họ tích cực, chủ động hơn trong việc bảo vệ môi trường sống, từ đó bảo vệ sức khỏe và cuộc sống chính bản thân mình và những người xung quanh.

Môi trường xanh- sạch đẹp, góp phần làm xã hội phát triển theo chiều hướng tích cực hơn.

- Bảo hộ lao động góp phần bảo vệ các thế hệ tương lai

Sức khỏe của bố mẹ có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con cái. Nếu công tác bảo hộ lao động tốt, môi trường làm việc an toàn, sức khỏe người lao động được đảm bảo góp phần giúp con cái họ khỏe mạnh, phát triển tốt.

Khi sức khỏe đảm bảo, người lao động làm việc không ngừng, năng suất lao động ngày càng được nâng cao, thu nhập của người lao động cũng tăng, tích lũy sẽ nhiều hơn, đảm bảo cho con cháu họ có 1 cuộc sống đầy đủ, được đầu tư phát triển toàn diện cả về trí lực và thể lực.

Đây là lực lượng lao động tương lai của xã hội, sự phát triển toàn diện của họ sẽ góp phần chủ đạo để xã hội văn minh hơn, tốt đẹp hơn.

Bảo hộ lao động góp phần bảo vệ môi trường, giừ gìn bảo vệ một môi trường trong lành, tránh được các hiểm họa bệnh tật cho thế hệ tương lai.

- Bảo hộ lao động góp phần bảo toàn quỹ phúc lợi xã hội

Phúc lợi xã hội bao gồm nhiều hoạt động như: chế độ với người có công, đầu tư phát triển y tế, giáo dục, từ thiện, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, người già, người tàn tật

Khi công tác bảo hộ lao động được làm tốt sẽ giảm những tổt thất về sức khỏe, con người và tiền của hạn chế được những tình trạng con cái mồ côi, người già neo đơn, người tàn tật những người mà xã hội phải nuôi.

Giảm bớt những tổn thất do phải nuôi dưỡng, điều trị, giải quyết hậu quả do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệpphần quỹ tiết kiệm được sẽ tập trung đầu tư cho các quỹ khác như y tế, giáo dục

Chương trình phúc lợi của một quốc gia thể hiện sự phát triển của quốc gia đó trong việc đầu tư cho con người. Xã hội sẽ phát triển tốt đẹp hơn nếu y tế, giáo dục được đầu tư nhiều, giảm bớt tình trạng mồ côi, người già neo đơn. Làm tốt công tác bảo hộ lao động là góp phần làm cho xã hội phát triển hơn.

Có thể khẳng định, bảo hộ lao động có vai trò to lớn không chỉ với người lao động với doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa với cả xã hội. Làm tốt công tác bảo hộ sẽ góp phần hạn chế tới mức thấp nhất tai nạn lao động, bệnh nghề ngiệp môi trường làm việc được đảm bảo, sức khỏe người lao động được bảo vệ, duy trì khả năng làm việc lâu dài của họ. Những con số thương tâm về thiệt hại của tai nạn lao động sẽ không xảy ra. Xã hội phát triển toàn diện, văn minh và lành mạnh hơn.

Đối với cương vị một nhà quản lý, để doanh nghiệp phát triển bền vững, đi đúng hướng, phù hợp với quy luật của sự phát triển xã hội thì chúng ta cần đặc biệt chú ý tới vấn đề này. Trong doanh nghiệp công tác bảo hộ lao dộng cần được làm tốt ngay từ khâu phòng ngừa đến khâu khắc phục hậu quả để sao cho thiệt hại là thấp nhất, mục tiêu của doanh nghiệp vẫn đạt được.

Câu 2:

Tổ chức bộ máy làm công tác BHLĐ/ AT-VSLĐ tại các cơ sở lao động được quy định trong văn bản mới nhất.

Theo Thông tư liên tịch số 01 ban hành ngày 10.1.2011 giữa Bộ Y tế và Bộ Lao động thương binh xã hội về Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác an toàn lao động vệ sinh lao động trong cơ sở lao động, thì bộ máy làm công tác BHLĐ tại các cơ sở lao động được tổ chức như sau:

Theo chương 2 của thông tư thì bộ máy làm công tác BHLĐ gồm:

* Bộ phận làm công tác an toàn vệ sinh lao động

- Tổ chức: điều 4 quy định

+ Cơ sở có tổng số lao động trực tiếp dưới 300 người phải bố trí ít nhất 01 cán bộ an toàn - vệ sinh lao động làm việc theo chế độ kiêm nhiệm;

+ Cơ sở có số lao động trực tiếp từ 300 đến 1.000 người phải bố trí ít nhất 01 cán bộ an toàn - vệ sinh lao động làm việc theo chế độ chuyên trách.

+ Cơ sở lao động có tổng số lao động trực tiếp trên 1.000 người phải thành lập Phòng hoặc Ban an toàn - vệ sinh lao động hoặc bố trí tối thiểu 2 cán bộ chuyên trách an toàn - vệ sinh lao động;

Về cán bộ phụ trách yêu cầu phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về kỹ thuật an toàn, kỹ thuật phòng, chống cháy nổ, kỹ thuật môi trường, vệ sinh lao động. Có hiểu biết về thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ của cơ sở.

Trường hợp cơ sở lao động không thành lập được bộ phận an toàn - vệ sinh lao động đáp ứng các yêu cầu quy định thì phải có hợp đồng với tổ chức có đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ an toàn - vệ sinh lao động 

- Nhiệm vụ( điều 5)

+ Phối hợp với các bộ phận có liên quan trong cơ sở lao động tiến hành các công việc tổ chức, triển khai thực hiện các công tác an toàn vệ sinh lao động

+ Đề xuất, tham gia kiểm tra việc chấp hành các quy định về an toàn - vệ sinh lao động trong phạm vi cơ sở lao động 

+ Đề xuất với người sử dụng lao động biện pháp khắc phục các tồn tại về an toàn - vệ sinh lao động

- Quyền hạn( điều 6)

+ Tham gia và tư vấn các vấn đề liên quan trực tiếp đến công tác bảo hộ lao động( yêu cầu đình chỉ, trực tiếp đình chỉ khi phát hiện sai xót, hay không an toàn, khen thưởng, thi đua..)

* Bộ phận y tế

- Tổ chức( điều 7)

Cơ sở lao động phải bố trí thành lập bộ phận y tế tại cơ sở theo quy định tối thiểu sau:

+ Cơ sở sử dụng số lao động trực tiếp từ 500 đến 1.000 người thì phải có ít nhất 01 nhân viên y tế có trình độ trung học chuyên ngành y.

+ Cơ sở có tổng số lao động trực tiếp trên 1.000 người cùng làm việc trên địa bàn thì phải tổ chức trạm y tế hoặc phòng hoặc ban y tế có ít nhất 01 y sĩ hoặc 01 bác sỹ đa khoa;

Trường hợp cơ sở lao động không thành lập được bộ phận y tế theo quy định trên hoặc là cơ sở lao động có tổng số lao động trực tiếp dưới 500 người thì phải có hợp đồng chăm sóc sức khỏe với một trong các cơ quan y tế địa phương dưới đây:

+ Trạm y tế xã, phường, thị trấn;

+ Phòng khám đa khoa khu vực;

+ Bệnh viện huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh hoặc trung tâm y tế huyện.

- Nhiệm vụ( điều 8)

+ Cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh thông thường tại cơ sở cho người lao động, sơ cấp cứu ban đầu

+ Quản lý tình hình sức khỏe của người lao động

+ Quản lí trang thiết bị, thuốc men, máy móc khám chữa bệnh

+ Xây dựng nội quy về vệ sinh lao động, các yếu tố ảnh hhưởng, biện pháp phòng ngừa

+ Xây dựng các tình huống sơ cấp cứu thực tế tại cơ sở

+ Kiểm tra việc thực hiện

+ Xây dựng kế hoạch điều dưỡng, phục hồi chức năng

+ Tổ chức huấn luyện định kì hàng năm cho người lao động

+ Các nhiệm vụ khác có liên quan đến việc giám sát môi trường, quản lí hồ sơ, báo cáo cho cơ quan cấp trên.

- Quyền hạn( điều 9)

+ Tham gia tham dự các cuộc họp có liên quan

+ Đề xuất các ý kiến, giải pháp

* Mạnh lưới an toàn vệ sinh viên

- Tổ chức( điều 10)

+ Mỗi khoa, phòng chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tổ sản xuất trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh phải có ít nhất 01 an toàn - vệ sinh viên kiêm nhiệm trong giờ làm việc.

+ An toàn - vệ sinh viên phải là người lao động trực tiếp, am hiểu nghiệp vụ (chuyên môn và kỹ thuật an toàn - vệ sinh lao động), nhiệt tình và gương mẫu trong việc chấp hành các quy định an toàn - vệ sinh lao động và được người lao động trong tổ bầu ra.

+ An toàn - vệ sinh viên hoạt động dưới sự quản lý và hướng dẫn của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc người đại diện tập thể người lao động, trên cơ sở "Quy chế hoạt động của mạng lưới an toàn - vệ sinh viên".

- Nhiệm vụ( Điều 11)

+ Đôn đốc nhắc nhở, hướng dẫn mọi người thực hiện đúng nội quy an toàn vệ sinh lao động

+ Giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn, phát hiện các sai xót, các nguy cơ mất an toàn

+ Kiến nghị với tổ trưởng hoặc cấp trên thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động

- Quyền hạn( điều 12)

+Được dành một phần thời gian làm việc để thực hiện các nhiệm vụ của an toàn - vệ sinh viên; riêng đối với an toàn - vệ sinh viên trong tổ sản xuất được trả lương cho thời gian thực hiện nhiệm vụ đó và được hưởng phụ cấp trách nhiệm như tổ trưởng sản xuất.

+ Yêu cầu người lao động trong tổ ngừng việc nếu thấy có nguy cơ mất an toàn

+ Được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ do công đoàn và người sử dụng lao động tổ chức

* Hội đồng bảo hộ lao động

- Tổ chức( điều13)

Cơ sở lao động có tổng số lao động trực tiếp trên 1.000 người thì phải thành lập Hội đồng bảo hộ lao động. Đối với các cơ sở lao động khác thì có thể thành lập Hội đồng bảo hộ lao động, nếu thấy cần thiết và đủ điều kiện để hoạt động.

Hội đồng bảo hộ lao động ở cơ sở lao động là tổ chức phối hợp, tư vấn về các hoạt động an toàn - vệ sinh lao động ở cơ sở lao động và để bảo đảm quyền được tham gia và kiểm tra giám sát về công tác bảo hộ lao động, an toàn - vệ sinh lao động của tổ chức công đoàn.

Số lượng thành viên Hội đồng bảo hộ lao động tùy thuộc vào số lượng lao động và quy mô của cơ sở nhưng phải bảo đảm các quy định sau:

+ Đại diện người sử dụng lao động làm Chủ tịch Hội đồng;

+ Đại diện của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn làm Phó chủ tịch Hội đồng;

+ Trưởng bộ phận hoặc cán bộ an toàn - vệ sinh lao động của cơ sở là ủy viên thường trực kiêm thư ký Hội đồng; nếu cán bộ an toàn - vệ sinh lao động là hợp đồng thuê từ tổ chức khác thì ủy viên thường trực kiêm thư ký Hội đồng sẽ do người sử dụng lao động chỉ định.

Tùy đặc điểm, điều kiện thực tế của cơ sở lao động, Hội đồng bảo hộ lao động có thể có thêm các thành viên khác có liên quan nhưng số lượng không được vượt quá 09 người.

- Quyền hạn, nhiệm vụ( điều 14)

+ Tham gia, tư vấn với người sử dụng lao động và phối hợp các hoạt động trong việc xây dựng quy chế quản lý, chương trình hành động, kế hoạch an toàn - vệ sinh lao động và các biện pháp an toàn - vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp của cơ sở lao động;

+ Tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện công tác an toàn - vệ sinh lao động ở cơ sở lao động theo định kỳ 6 tháng và hằng năm. Trong kiểm tra, nếu phát hiện thấy nguy cơ mất an toàn, có quyền yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện các biện pháp loại trừ nguy cơ đó.

Trên đây là quy định về tổ chức bộ máy thực hiện công tác BHLĐ/ AT-VLĐ theo quy định của thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT ban hành ngày 10.1.2011 về Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động trong cơ sở lao động. Tuy nhiên do đây là văn bản mới nên các cơ sở lao động chưa có sự điều chỉnh ngay cho phhù hợp, bởi vậy trên thực tế hầu hết các cơ sở lao động đều tổ chức bộ máy làm công tác BHLĐ theo quy định của thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT- BL ĐTBH- BYT-TLĐLĐVN ban hành ngày 31.10.1998 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét